Ngày 7-8/9/2026, Cảng Quốc tế Cái Mép (CMIT) và Cảng Tân Cảng – Cái Mép Thị Vải (TCTT) lần đầu phối hợp khai thác một tàu mẹ tại khu vực cầu bến kết nối giữa hai cảng. Tàu ZIM SHENZHEN dài 335,23 m, trọng tải 102.517 DWT; khoảng 3.200 TEU hàng hóa và container rỗng được xử lý trong gần một ngày. Sự kiện không chỉ là một ca khai thác thành công mà còn cho thấy hướng tối ưu hạ tầng bằng kết nối và phối hợp vận hành giữa các bến cảng liền kề.
Theo thông tin Hiệp hội Cảng biển Việt Nam (VPA) đăng tải, CMIT và TCTT đã cùng tiếp nhận tàu ZIM SHENZHEN tại khu vực cầu bến kết nối trong hai ngày 7-8/9/2026. Đây là lần đầu tiên hai cảng cùng khai thác một tàu mẹ tại cầu bến chung, đánh dấu bước triển khai thực tế của mô hình kết nối hạ tầng trong cụm cảng Cái Mép.
Tàu có chiều dài 335,23 m và trọng tải 102.517 DWT. Hoạt động khai thác được thực hiện theo phương án bảo đảm an toàn hàng hải đã được Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam phê duyệt, dưới sự giám sát của cơ quan cảng vụ.
| Chỉ tiêu | Thông tin | Ý nghĩa vận hành |
|---|---|---|
| Tàu khai thác | ZIM SHENZHEN | Tàu mẹ đầu tiên được CMIT và TCTT cùng xử lý tại cầu bến liên kết |
| Chiều dài tàu | 335,23 m | Đòi hỏi phương án cầu bến và an toàn hàng hải chặt chẽ |
| Trọng tải | 102.517 DWT | Khẳng định khả năng phục vụ tàu mẹ cỡ lớn |
| Sản lượng xử lý | Khoảng 3.200 TEU | Bao gồm hàng hóa và container rỗng |
| Chiều dài tuyến cầu bến liên tục | Khoảng 1.200 m | Tạo dư địa bố trí cầu bến linh hoạt hơn |
Nguồn dữ liệu sự kiện: Hiệp hội Cảng biển Việt Nam (VPA), dẫn thông tin từ CMIT và TCTT, cập nhật tháng 9/2026.
Trong gần một ngày vận hành, hai cảng đã phối hợp xử lý khoảng 3.200 TEU hàng hóa và container rỗng. Tàu hoàn thành khai thác và rời cảng theo đúng kế hoạch. Kết quả này quan trọng vì hiệu quả của mô hình liên kết không chỉ được đo bằng khả năng đưa một tàu lớn vào cầu bến, mà còn bằng năng lực phối hợp con người, thiết bị, bãi container và luồng chứng từ trong điều kiện khai thác thực tế.
Để một chuyến tàu chung vận hành trơn tru, các bên phải thống nhất từ giải pháp kỹ thuật, đánh giá hạ tầng, phương án an toàn hàng hải đến quy trình điều độ. Việc hoàn thành ca khai thác đúng lịch cho thấy kết nối vật lý giữa hai bến đã được hỗ trợ bởi một cơ chế phối hợp vận hành tương ứng.
Kết nối giữa CMIT và TCTT tạo thành một tuyến cầu bến liên tục dài khoảng 1.200 m. Theo VPA, cấu hình này cho phép phân bổ cầu bến linh hoạt hơn, tối ưu việc sử dụng hạ tầng hiện hữu và tăng khả năng tiếp nhận đồng thời các tàu mẹ cỡ lớn.
Trong khai thác cảng, chiều dài cầu bến là nguồn lực hữu hạn. Khi từng bến vận hành như một đơn vị tách biệt, có thể xuất hiện tình trạng một bên thiếu vị trí phù hợp trong khi khu vực liền kề chưa được tận dụng tối đa. Kết nối cầu bến giúp mở rộng không gian điều độ, nhưng lợi ích thực tế vẫn phụ thuộc vào mớn nước, thiết bị, năng lực bãi và lịch tàu tại từng thời điểm.
Vì vậy, ý nghĩa lớn nhất không nằm ở con số 1.200 m riêng lẻ mà ở khả năng chuyển từ tư duy khai thác từng bến sang tư duy tối ưu theo cụm cảng. Đây là hướng tiếp cận phù hợp khi kích thước tàu mẹ tăng, lịch trình dịch vụ dày hơn và yêu cầu giải phóng tàu ngày càng khắt khe.
Đối với hãng tàu, cầu bến liên kết có thể tạo thêm phương án bố trí khi tiếp nhận tàu lớn, giảm rủi ro xung đột lịch cầu và hỗ trợ duy trì độ tin cậy của lịch trình. Tuy nhiên, đây không phải cam kết rằng mọi chuyến tàu đều tự động được xử lý nhanh hơn; hiệu quả còn phụ thuộc sản lượng, cơ cấu container, tình trạng bãi và kết nối hậu phương.
Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giá trị dễ nhận thấy nhất là triển vọng ổn định hơn của chuỗi phục vụ tàu mẹ trực tiếp. Khi năng lực tiếp nhận và điều phối cầu bến được cải thiện, doanh nghiệp có thêm cơ sở để kỳ vọng giảm rủi ro chờ cầu hoặc đổi kế hoạch khai thác đột xuất.
Một chuyến tàu xử lý hàng nghìn TEU trong gần một ngày tạo ra nhu cầu vận chuyển hậu phương tập trung. Nếu kế hoạch xe, kho và thời gian lấy – hạ container không bám sát nhịp khai thác, lợi ích tại cầu bến có thể chuyển thành ùn cục bộ ở cổng cảng hoặc tăng thời gian chờ của phương tiện.
Doanh nghiệp vận tải nên chuẩn bị theo ba lớp. Thứ nhất là dự báo sản lượng theo lịch tàu và cut-off thay vì điều xe theo từng lệnh rời rạc. Thứ hai là kiểm soát thời gian miễn lưu container, lịch đóng hàng và khả năng tiếp nhận của kho. Thứ ba là duy trì kênh cập nhật giữa điều vận, lái xe, cảng, depot và bộ phận chứng từ để xử lý nhanh các thay đổi.
Thành công của chuyến tàu ZIM SHENZHEN cho thấy năng lực cảng không chỉ đến từ đầu tư thêm cầu bến mới. Kết nối hạ tầng hiện hữu, thống nhất tiêu chuẩn an toàn và xây dựng cơ chế phối hợp cũng có thể tạo thêm năng lực khai thác. Đây là hướng tối ưu có giá trị trong bối cảnh quỹ đất, luồng hàng hải và vốn đầu tư đều cần được sử dụng hiệu quả.
Với các cụm cảng khác, trong đó có Hải Phòng, bài học đáng tham khảo là phát triển cảng cần đi cùng kết nối hậu phương và chia sẻ kế hoạch vận hành. Cầu bến, luồng tàu, đường bộ, depot và khu công nghiệp phải được nhìn như một hệ thống. Nếu một mắt xích không theo kịp, năng lực tăng thêm ở cầu cảng chưa chắc chuyển hóa thành thời gian giao nhận ngắn hơn cho khách hàng.
Sự kiện CMIT–TCTT vì thế là một cột mốc kỹ thuật và vận hành đáng chú ý của ngành cảng Việt Nam. Giá trị dài hạn sẽ được chứng minh qua khả năng duy trì mô hình an toàn, mở rộng số chuyến khai thác và kết nối hiệu quả với vận tải nội địa.
Nếu doanh nghiệp cần tư vấn phương án vận chuyển container từ cảng về kho, kiểm soát lịch lấy – hạ hàng hoặc tối ưu chi phí logistics nội địa, VTM Logistics sẵn sàng hỗ trợ xây dựng kế hoạch phù hợp với từng lô hàng.